02:47 +07 Thứ hai, 21/10/2019
Bệnh viện Đa khoa huyện Hương Khê kính chào quý khách!

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 5


Hôm nayHôm nay : 110

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 8948

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 312799

Học tập HCM
60 năm ngành Y tế
Bộ y tế
Sở Y tế
Vắc xin rubella

LIÊN KẾT WEBSITE

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức hoạt động » Nghiên cứu khoa học

Đánh giá kết quả của kỹ thuật cắt Amidan bằng dao điện đơn cực tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hương Khê

Thứ tư - 27/02/2019 07:10
Đánh giá kết quả của kỹ thuật cắt Amidan bằng dao điện đơn cực tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hương Khê

Đánh giá kết quả của kỹ thuật cắt Amidan bằng dao điện đơn cực tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hương Khê

Nghiên cứu khoa học là một trong bảy nhiệm vụ trọng tâm của bệnh viện. Nhờ được quan tâm sâu sát của các đồng chí trong BCH Đảng ủy, BGĐ nên trong những năm qua công tác nghiên cứu khoa học của Bệnh viện Đa khoa huyện Hương Khê luôn phát triển mạnh mẽ, nhiều đề tài có chất lượng và tính ứng dụng thực tiễn cao đã được thực hiện. Nhân dịp ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2/2019, Bệnh viện Đa khoa huyện Hương Khê xin trân trọng giới thiệu một trong những đề tài đó tới bạn đọc.

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

NĂM 2018

 

 

 

 

 ĐÁNH GIÁ KẾTQUẢ CỦA KỸ THUẬT CẮT AMIDAN BẰNG DAO ĐIỆN ĐƠN CỰC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN HƯƠNG KHÊ

 

Nguyễn Văn Tuấn

Phạm Trung Kiện

Phạm Phương Thảo

Hoàng Việt Hùng

Phan Viết Vĩnh

 

 

 

 

Hương Khê, Ngày 02 tháng 9 năm  2018

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cắt Amidan là một trong những phẫu thuật được thực hiện nhiều nhất trong chuyên ngành tai mũi họng. Cắt Amidan cho đến hiện tại vẫn là một phẫu thuật phổ biến. Ở Việt Nam, phẫu thuật cắt Amidan cũng là một trong những phẫu thuật tai mũi họng được thực hiện nhiều nhất.

Tuy là một phẫu thuật phổ biến nhưng cắt amidan cũng có thể gây ra các biến chứng trong và sau mổ như chảy máu trong và sau mổ, nhiễm trùng hốc mổ, đau sau mổ thậm chí có thể tử vong.

Hạn chế hay gặp của các phương pháp cắt Amiđan là vấn đề chảy máu trong và sau mổ, đau sau mổ, thời gian hồi phục kéo dài.  

Tại bệnh viện đa khoa huyện Hương Khê, có hai kỹ thuật cắt amidan đang được áp dụng, đó là cắt Amidan bằng dao điện và cắt Amidan bằng máy Comblator.

Với ưu thế về thời gian phẫu thuật ngắn, ít đau sau mổ, dễ tiến hành và chuyển giao kỹ thuật, giá thành thấp và thực hiện được nhiều phẫu thuật ở các chuyên nghành khác nhau trên cùng một bộ dụng cụ nên phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay. Dao cấu tạo đơn giản, dễ sử dụng, bảo quản và tái sử dụng, giá thành thấp. Qua nhiều năm tến hành cắt Amidan bằng hai phương pháp trên, tuy nhiên chúng tôi chưa có một nghiên cứu nào về tính hiệu quả của phương pháp cắt Amidan bằng dao điện, vì vậy nay chúng tôi làm đề tài: “Đánh giátính hiệu quả của kỹ thuật cắt Amidan bằng dao điện đơn cựctại Bệnh viện đa khoa huyện Hương Khê
Với mục tiêu: Đánh giá các mặt ưu điểm và nhược điểm của kỹ thuật cắt Amidan bằng dao điện.

 

 

 

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Lịch sử nghiên cứu

1.1.1. Trên thế giới

Cắt Amidan là một phẫu thuật được biết đến từ lâu và vẫn còn tồn tại và phổ biến đến ngày nay, là phẫu thuật chiếm tỷ lệ cao nhất rong lĩnh vực tai mũi họng

Năm 1930: Fowler đưa ra phương pháp: “cắt bỏ toàn bộ amiđan mà không làm tổn thương các tổ chức xung quanh”.

Năm 1954: Sluder đưa ra phương pháp cắt amidan bằng dụng cụ dao lạnh mang tên ông.

Năm 1955: Angles đưa ra phương pháp cắt amidan bằng thòng lọng.

Năm 1990: Ethicon cắt amidan bằng dao siêu âm.

Năm 1994: Krepsi, Barteles Cắt amidan bằng laser.

Năm 1997: Akkielah thực hiện cắt amidan bằng dao điện.

Năm 1998: Ca phẫu thuật cắt amidan bằng dao plasma được thực hiện lần đầu tiên.

Năm 2002: Koltai cắt Amidan bằng Microdebrider.

Năm 2002: Timmes cắt Amidan bằng Coblator và so sánh kết quả với cắt bằng dao điện [25].

Các nghiên cứu gần đây tập trung vào đánh giá kết quả sau phẫu thuật cắt amidan, so sánh các phương pháp phẫu thuật nhằm tìm ra phương pháp có nhiểu ưu điểm nhất.

Belloso A và cộng sự (2006) nghiên cứu trên 41 bệnh nhân cắt amidan bằng Coblator và laser palatoplasty để điều trị chứng ngáy ngủ thấy tác dụng điều trị của 2 nhóm rất tốt tuy nhiên nhóm cắt bằng coblator ít đau sau mổ hơn hẳn so với nhóm cắt bằng laser [20].

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy, phẫu thuật cắt amidan ngày nay rất phát triển và ngày càng có nhiều thành tựu tiên tiến. Bệnh nhân chịu ít biến chứng hơn, khả năng hồi phục sau mổ nhanh hơn nhiều so với trước.

1.1.2. Việt Nam

Từ năm 1960 đến năm 2000 hai kỹ thuật chính được sử dụng tại Việt Nam là phương pháp sử dụng Sluder và thòng lọng để cắt amidan.

Năm 2000 dao điện đơn cực được sử dụng cắt amidan tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương.

Năm 2004 kỹ thuật cắt amidan bằng Coblator được áp dụng tại bệnh viện Nhi đồng I.

Năm 2007 dao siêu âm được áp dụng cắt amidan tại bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 2011 cắt amidan bằng Laser gold tại bệnh viện Bạch Mai

Năm 2012 dao plasma được áp dụng cắt amidan tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội.

Gần đây các tác giả Việt Nam tập trung đánh giá về hiệu quả của các phương pháp phẫu thuật hiện hành.

Hồ Phan Thị Ly Đa, Võ Lâm Phước và Đặng Thanh năm 2012 đánh giá kết quả phẫu thuật cắt amidan bằng dao điện đơn cực và lưỡng cực tại bệnh viện trung ương Huế [3].

Qua các nghiên cứu trên thấy được sự quan tâm của các nhà Tai Mũi Họng lâm sàng về phẫu thuật cắt amidan và mong muốn ngày càng giảm đi những biến chứng trong phẫu thuật này.

1.2. Các phương pháp cắt amidan

Có rất nhiều phương pháp và kỹ thuật cắt amidan, trải qua thời gian, các phương pháp đều có những ưu nhược điểm nhất định phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện phẫu thuật [11] .

1.2.1. Phương pháp cắt Amidan lạnh

a. Cắt Amidan bằng sluder

Là phương pháp dùng dụng cụ Sluder –Ballenger để cắt amidan.

Phương pháp này thường dùng ở trẻ 6 đến 10 tuổi, phương pháp vô cảm là gây mê Kelene qua mask, tư thế ngồi, có người ngồi kèm. Trẻ được gây mê từ 5 đến 10 phút. Đối với trẻ lớn trên 10 tuổi có thể gây tê.  Gồm có 4 thì chính. Phẫu thuật viên phải sử dụng cả 2 tay, tay phải cắt amidan phải, tay trái cắt amidan trái. Nên cắt bên tay không thuận trước để dành tay thuận làm sau vì khi đến amidan thứ hai họng sẽ đầy máu khó nhìn nên phải làm nhanh, bệnh nhân sắp tỉnh dậy.

b. Cắt amidan bằng bóc tách thòng lọng

Phương pháp này sử dụng dao lưỡi còn có cán, que bóc tách và dụng cụ cắt với thòng lọng. Phương pháp này thường dùng ở trẻ nhỏ cũng như người lớn [14]. 

1.2.2. Cắt bằng dao điện

Phẫu thuật điện là quá trình sử dụng dòng điện tần số cao để cắt và làm đông khô [10], [14]. Kỹ thuật phẫu thuật điện chia làm 2 loại: kỹ thật đơn cực (monoplar) và kỹ thuật lưỡng cực (bipolar). Thiết bị điện này tạo ra sóng điện từ có tần số rất cao đạt tới từ 350.000 chu kỳ/giây đến 400.000 chu kỳ/giây [19]. Các thiết bị phẫu thuật điện hiện nay ngoài việc tạo ra các sóng thuần nhất cho việc cắt hoặc đông còn có thể tạo ra các sóng hỗn hợp cho cả việc cắt hoặc đông. Nhiệt độ cắt của dao điện từ 250-300oC.

Chế độ cắt Amidan:

  • Dao điện: Cắt bằng chế độ Cầm máu, đặt máy ở chế độ Cầm máu 15-20 tùy theo từng phẫu thuật viên. Có thể bấm tay hoặc đạp chân tùy theo thói quen từng phẫu thuật viên.
  • Bipolar: đặt máy ở chế độ 40
  • Ưu điểm:
    • Dao điện monopolar là dụng cụ phẫu thuật phổ biến tại các phòng mổ, chi phí vật tư không lớn
    • Dễ sử dụng, có thể tăng hay giảm cường độ dòng điện dễ dàng
    • Dễ dàng thao tác dao điện khi cắt amidan do dao điện thường nhỏ gọn dễ xoay sở trong hốc mổ amidan phẫu trường hẹp, bipolar nhỏ gọn có nhiều kích thước đầu có thể cầm máu dễ dàng các mạch máu nhỏ.
  • Nhược điểm
    • Nhiệt độ dao điện monopolar và bipolar khá lớn, gây bỏng tổ chức nhiều hơn các loại dao thế hệ mới.

1.2.3. Dao siêu âm

Dao mổ siêu âm (harmonic scalpel) sử dụng sóng siêu âm tần số 55.000Hz được ứng dụng trong phẫu thuật đầu cổ. Harmonic scalpel có khả năng cắt và cầm máu với hiệu ứng nhiệt thấp (50-100°C) [13].

1.2.4. Cắt Amidan bằng Laser CO2

          Laser cũng được dùng để thực hiện cắt amidan. Trên thực tế sử dụng laser cắt amidan đã được mô tả vào đầu những năm 1980. Bức xạ nhiệt của chùm tia laser có tác dụng cắt tổ chức, ít tổn thương mô lành xung quanh, cầm máu và kích thích tái tạo tổ chức mô [4]. 

1.2.5. Cắt Amidan bằng Coblator

Về nguyên tắc Coblator sử dụng dòng điện được truyền qua một lớp dung dịch dẫn điện sẽ tạo ra một lớp phân tử ở trạng thái plasma, các hạt mang điện đi qua lớp plasma này được tăng năng lượng để bẻ gãy liên kết giữa các mô và tổ chức. Dung dịch dẫn điện này chính là nước muối, khi sóng năng lượng điện tần số radio đi qua dung dịch nước muối sẽ phân giải phân tử NaCl thành các ion Na+ và Cl- tạo ra một lớp plasma đủ năng lượng để bẻ gãy liên kết giữa các tế bào. Nhiệt độ cắt là từ 40-700C [2], [15], [16]. Chế độ cắt Amidan:

  • Cắt bằng chế độ Cắt: đặt máy ở chế độ 7, Cầm máu bằng chế độ Cầm máu, đặt máy ở chế độ: 3
  • Ưu điểm:
    • Là loại dao thế hệ mới, nhiệt độ tác động để cắt tổ chức thấp hơn dao điện nên ít làm tổn thương mô hơn.
    • Cầm máu tổ chức tốt hơn do có chế độ cầm máu cài đặt sẵn và nước làm mát nên nhiệt độ thấp hơn bipolar
    • Đầu cắt tù nên cắt amidan một cách từ từ do đó tránh các biến chứng do động tác không đúng của các phẫu thuật viên thiếu kinh nghiệm.
  • Nhược điểm:
    • Chi phí máy và vật tư tiêu hao đắt hơn dao điện
    • Đòi hỏi phẫu thuật viên kinh nghiệm để điều khiển lưỡi dao đúng động tác

1.2.6. Dao plasma

Dao plasma sử dụng sóng năng lượng điện tần số radio để cắt mô. Năng lượng tần số radio tạo ra một lớp plasma trung gian được phóng ra qua rìa của một điện cực cách điện 99,5% mỏng và phẳng. Chính lớp viền plasma này tạo ra năng lượng để cắt tổ chức và cầm máu. PlasmaBlade cắt tại nhiệt độ trung bình thấp hơn nhiều so với dao điện thông thường, nhiệt độ cắt từ 40-80oC [17].

Chế độ Cắt amidan

  • Cắt bằng chế độ Cầm máu, đặt máy ở chế độ cầm máu: 3
  • Ưu điểm:
    • Giống như coblator, lưỡi dao plasma là lưỡi dao thế hệ mới nhiệt độ cắt tổ chức thấp hơn dao điện nên ít làm tổn thương mô hơn
    • cầm máu tốt bằng chếđộ cầm máu được cài đặt
    • lưỡi dao plasma dẹt và thiết diện mỏng hơn coblator nên cắt amidan nhanh hơn, có thể bẻ cong được do đó có thể thao tác dễ dàng hơn trong phẫu trường hẹp.
  • Nhược điểm:
    • Chi phí máy và vật tư tiêu hao đắt hơn dao điện
    • Đòi hỏi phẫu thuật viên kinh nghiệm để điều khiển lưỡi dao thuần thục.

1.3. Chỉ định, chống chỉ định cắt Amidan

1.3.1. Chỉ định cắt Amidan

Theo hiệp hội phẫu thuật và đầu cổ Hoa Kỳ 2002:

- Viêm Amidan quá phát gây ra

+ Tắc nghẽn đường hô hấp trên

+ Nuốt vướng

+ Rối loạn giấc ngủ

+ Rối loạn tim mạch

+ Ảnh hưởng phát triển hàm mặt

- Tần suất viêm:

+ > 7 lần/năm

+ > 5 lần trong 2 năm liên tiếp

+ > 3 lần trong 3 năm liên tiếp

- Viêm Amidan gây biến chứng

- Amidan quá phát  nghi ngờ ác tính cần sinh thiết xác định giải phẫu bệnh.

 

1.3.2. Chống chỉ định cắt Amidan

1.3.2.1. Chống chỉ định tạm thời

- Đang có viêm cấp, có biến chứng tại chỗ của amidan.

- Đang có nhiễm khuẩn cục bộ hay toàn thân.

- Có bệnh mạn tính chưa ổn định.

- Đang trong vụ dịch

- Phụ nữ đang có thai, kinh nguyệt.

- Những bệnh nhân quá lớn tuổi hoặc quá nhỏ.

1.3.2.2. Chống chỉ định tuyệt đối

- Các bệnh về máu gây rối loạn đông máu nặng.

- Các bệnh suy tim, tâm phế mạn.

- Các bệnh suy thận gây suy thận mạn tính.

- Các bệnh cao huyết áp mà không kiểm soát được huyếtáp.

- Các bệnh dị ứng không thểđảm bảo phẫu thuật gây mê hồi sức được.

1.4. Biến chứng cắt Amidan

1.4.1. Biến chứng chảy máu

Trong phẫu thuật cắt amidan, khác với các phẫu thuật khác thông thường bác sỹ phẫu thuật sẽ không thắt mạch cũng không khâu vêt mổ lại. Vì thế biến chứng chảy máu có thể xảy ra [1], [5], [9]. 

Định nghĩa chảy máu sau mổ: Tình trạng chảy máu sau mổ được tính bắt đầu từ thời điểm sau khi rút ống nội khí quản.

Thời điểm chảy máu:

+ Đa số biến chứng chảy máu xảy ra vào khoảng 3-4 giờ sau phẫu thuật (90%). Vì thế cần lưu bệnh nhân lại một ngày để theo dõi.

+ Chảy máu vào ngày thứ 7- 10 sau phẫu thuật, giả mạc hố mổ tróc ra có thể gây chảy máu lượng ít hay nhiều. Nếu chỉ chảy lượngít sau đó tự cầm thì tiếp tục theo dõi, nếu chảy máu lượng nhiều, kéo dài, không tự cầm thì cần đến bệnh viện để xử trí.

Mức độ chảy máu: được chia làm các mức độ dựa vào dấu hiệu lâm sàng và các phương pháp xử trí cần thiết áp dụng.

1.4.2. Biến chứng đau sau phẫu thuật

Đau là nỗi lo sợ của nhiều bệnh nhân kể cả người lớn và trẻ em sau phẫu thuật cắt amidan. Đau sau mổ gây cảm giác rất khó chịu làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý người bệnh, làm chậm quá trình hồi phục sau phẫu thuật đặc biệt làm tăng nguy cơ trở thành đau mạn tính.

Nguyên nhân:

+ Phẫu thuật làm tổn thương nhiều tổ chức xung quanh

+ Bệnh nhân quá lo lắng, sợ hãi, ảnh hưởng tâm lý

+ Chế độ chăm sóc, dinh dưỡng sau mổ không hợp lý: bệnh nhân nói nhiều, la hét to hay khóc to gây đau.

Xử trí:

+ Dự phòng đau trước mổ bằng paracetamol, lidocain

+ Cho thuốc giảm đau đường uống hoặc đường tiêm để giảm đau sau mổ. Thường dùng là các thuốc chứa hoạt chất Paracetamol, Ibuprofen.

1.4.3. Biến chứng gây mê

Biến chứng gây mê thường gặp ở bệnh nhân nhi, tuổi còn quá nhỏ hoặc sức khỏe yếu.

Xử trí:

Bỏ gây mê, cho trẻ nằm đầu thấp và làm cấp cứu ngừng tuần hoàn, hô hấp nhân tạo.

 

 

1.4.4. Biến chứng nhiễm trùng

Nhiễm trùng sau phẫu thuật có thể xảy ra nhưng tỷ lệ càng ngày càng ít đi cả về tần số và mức độ nguy hiểm. Có thể gặp các biến chứng sau:

+ Viêm hố mổ

+ Viêm tai giữa cấp tính ở trẻ nhi có cắt amidan kèm nạo VA

+ Viêm phế quản

+ Nhiễm khuẩn huyết

Xử trí

+ Cho kháng sinh nhạy với các vi khuẩn ở vùng đầu mặt cổ: nhóm β_lactam hoặc nhóm Cephalosprin.

+ Trường hợp nặng điều trị kháng sinh tích cực theo kháng sinh đồ.

1.4.5. Các biến chứng khác

Ngoài ra bệnh nhân có thể gặp các biến chứng hiếm gặp khác như thay đổi giọng nói, nôn trớ ở trẻ nhỏ hoặc tình trạng ngủ ngáy, viêm mũi xoang trước đó không được cải thiện nhiều [7].

1.5. Đánh giá mức độ đau

Đánh giá mức độ đau của bệnh nhân dựa trên các thang điểm đau, thời gian dùng thuốc giảm đau, số lần dùng thuốc giảm đau các ngày sau mổ. Thường dùng 2 thang điểm đau là thang điểm VAS và thang điểm numerical pain scale.

Số lần dùng thuốc giảm đau trong ngày đầu tiên và ngày thứ 2 sau mổ. Bệnh nhân được kê đơn thuốc 2 lần/ngày, được tư vấn khi nào dùng thuốc.

Thời gian dùng thuốc giảm đau (tính theo ngày). Bệnh nhân được kê đơn thuốc trong 5 ngày sau mổ.

 

 

 

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Mẫu nghiên cứu

Gồm 100 bệnh nhân được phẫu thuật cắt amidan bằng amidan bằng dao điện đ ơn c ựctại Bệnh viện đa khoa huyện Hương Khê.

2.1.2. Thời gian nghiên cứu:Từ tháng 01/2018 đến tháng 06/2018

2.1.3. Địa điểm nghiên cứu:Bệnh viện đa khoa huyện Hương Khê.

2.1.4. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

- Bệnh nhân có chỉ định cắt Amidan theo tiêu chuẩn của hiệp hội phẫu thuật và đầu cổ Hoa Kỳ 2002, chỉ chọn các bệnh nhân chỉ định cắt do viêm amidan mạn tính, quá phát, viêm amidan biến chứng.

- Bệnh nhân từ 08 tuổi trở lên

- Được phẫu thuật cắt Amidan bằng dao điện và coblator, có hồ sơ bệnh án ghi chép đầy đủ.

- Bệnh nhân được theo dõi hậu phẫu vào ngày thứ 1;2 và 7, được khám lại vào ngày thứ 7 và 14 sau mổ.

- Chỉ chọn bệnh nhân thực hiện 1 phẫu thuật duy nhất là cắt amidan

- Bệnh nhân đồng ý hợp tác nghiên cứu.

2.1.5. Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân có chỉ định cắt Amidan khác như viêm amidan quá phát nghi ngờ u, u nhú amidan, hoặc dài mỏm trâm.

- Bệnh nhân không hoàn chỉnh hồ sơ bệnh án nghiên cứu

- Bệnh nhân không hợp tác nghiên cứu hoặc không theo dõi đầy đủ.

- Bệnh nhân ở quá xa không thể khám lại theo hẹn

- Bệnh nhân thực hiện nhiều phẫu thuật khác (như nạo VA …)

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu mô tả từng trường hợp.

2.2.2. Phương tiện nghiên cứu

- Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân

- Phiếu điều tra nghiên cứu

- Bảng đánh giá điểm đau

- Dao điện

- Máy Comblator II của Mỹ.

2.2.3. Cách thức phẫu thuật cắt Amidan

a. Vô cảm

- Gây mê nội khí quản.

b. Tư thế

- Tư thế Rose: Bệnh nhân nằm ngửa, đầu được nâng lên bằng gối vai đặt dưới vai. Gối tròn được đặt dưới đầu.

c. Các bước phẫu thuật

- Đặt mở miệng David Boyle

- Cặp amidan bằng Allis hoặc Boujoir

- Mở khuyết cực trên

- Cắt Amidan theo bình diện bao amidan bằng dao điện hoặc coblator

+ Dao điện: cắt bằng chế độ cầm máu 15-20 tùy thói quen từng phẫu thuật viên.

+ Máy coblator: cắt bằng chế độ cut 7, cầm máu bằng chế độ cầm máu 3

- Giải phóng Amidan

- Cầm máu

- Kiểm tra không chảy máu

- Kết thúc phẫu thuật.

2.3.Các thông số nghiên cứu

2.3.1. Đánh giá trong phẫu thuật

- Thời gian phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật (phút): được tính từ lúc đặt banh mở miệng đến khi lấy hết mô amidan hai bên, cầm máu hoàn toàn.

  • Lượng máu mất trong phẫu thuật

Được đánh giá dựa theo số ml máu mất do phẫu thuật từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc phẫu thuật

  • Khả năng cầm máu trong mổ:

+ Không chảy máu

+ Khâu cầm máu

+ Tiêm thuốc cầm máu

2.3.3. Theo dõi sau mổ

2.3.3.1. Chảy máu sau mổ

Định nghĩa là chảy máu bắt đầu tính từ sau khi rút ống nội khí quản, được đánh giá mức độ chảy máu gồm 5 mức độ A, B, C D, E.

Thời gian theo dõi: sau khi ra viện bệnh nhân sẽ được hẹn khám lại và quay trở lại bệnh viện bất cứ khi nào có dấu hiệu chảy máu.

  • Mức độ chảy máu:
  • Mức độ A: Nước bọt có lẫn dây máu
    • A1: hốc mổ khô, không có cục máu đông
    • A2: Có cục máu đông, hốc mổ khô sau khi lấy bỏ cục máu đông
  • Mức độ B: Có điểm chảy máu, có máu đỏ tươi chảy khi khám
    • B1: Cầm máu được bằng ngậm nước đá và oxy già
    • B2: Phải can thiệp cầm máu gây tê ( coblator, bipolar, đông điện)
  • Mức độ C: Chảy máu phải can thiệp gây mê cầm máu
  • Mức độ D: Mất máu nhiều phải truyền máu và gây mê cầm máu
  • Mức độ E: Nguy hiểm tính mạng hoặc thậm chí tử vong do mất máu, shock mất máu.

2.3.3.2. Đánh giá mức độ đau

- Thang điểm đau Numerical pain scale: có mức điểm từ 0-10 điểm, sử dụng cho bệnh nhân >8 tuổi. Thang điểm này là các số từ 0 đến 10 tương ứng với mức độ đau. Hàng chữ là tương ứng với mức độ đau. Bệnh nhân cũng được đánh giá mức độ đau ở ngày thứ 1; 2 và 7 sau mổ.

Trong mổ và ngay sau mổ bệnh nhân được dùng giảm đau, Trong mổ bệnh nhân được dùng Fentanyl ống tiêm 2 và 10 ml (50 microgam/ml) là một thuốc thuộc nhóm Opioid, thuốc có tác dụng giảm đau mạnh gấp 100 lần morphin, thuốc có tác dụng giảm đau mạnh , thuốc có tác dụng sau 15 giây khi tiêm tĩnh mạch kéo dài khoảng 20-30 phút. Ngay sau mổ bệnh nhân được truyền tĩnh mạch Perfalgan 1g (paracetamol 1g) 30 giọt/ ph. Thuốc có tác dụng giảmđau kéo dài 4 tiếng sau khi truyền. Chính vì vậy, thời điểm đánh giá đau sau mổ lần đầu sẽ là sau khi mổ 6h sau khi các thuốc giảm đau trên đã hết tác dụng.

  • Ngày thứ 1: đánh giá sau 6h sau khi mổ, là thời điểm bệnh nhân đã hết tác dụng giảm đau của thuốc giảm đau dùng trong và ngay sau mổ.
  • Đánh giá mức độ đau khi bệnh nhân chưa uống thuốc giảm đau, thuốc giảm đau không được dùng thường quy mà dặn bệnh nhân chỉ khi đau vừa hoặc nhiều mới dùng thuốc. (từ 5 – 10 điểm độ đau)
  • Nếu đau mức độ nhẹ sẽ dặn bệnh nhân ngậm nước muối đá, nước muối lạnh. (dưới 5 điểm độ đau)

2.4. Xử lý số liệu 

Số liệu nghiên cứu được xử lý bằng các thuật toán thống kê y học, sử dụng chương trình toán thống kê SPSS 20.0.

2.5. Đạo đức nghiên cứu

- Tất cả các bệnh nhân nghiên cứu đều được giải thích đầy đủ, rõ ràng về những lợi ích cũng như các biến chứng có thể xảy ra. Được bệnh nhân và người nhà đồng ý.

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

 

Qua nghiên cứu 100 trường hợp cắt Amidan tại bệnh viện đa khoa huyeebj Hương Khê từ tháng 01/2017 – 6/2017 chúng tôi thu được kết quả sau:

3.1. Thời gian phẫu thuật

Bảng 3.1. Thời gian phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật (phút)

Dao điện

Ngắn nhất

10

Dài nhất

60

Trung bình

30

Thời gian phẫu thuật thay đổi rất lớn theo từng phẫu thuật viên. Điều này thể hiện kinh nghiệm và kỹ thuật của từng phẫu thuật viên.

  • Cắt A bằng dao diện: thời gian phẫu thuật ngắn nhất là 10 phút, dài nhất là 60 phút, trung bình là 30 phút/ ca.

3.2. Cầm máu trong mổ

Bảng 3.2. Khả năng cầm máu trong mổ

 

Dao điện

Khâu chữ X

2

Thuốc cầm máu

5

 
  • Cắt A bằng dao điện:, có 2 trường hợp phải khâu chữ X để cầm máu, 5trường hợp phải sử dụng thêm thuốc cầm máu trong mổ.

 

 

 

3.3. Lượng máu mất trong mổ

Bảng 3.3. Lượng máu mất trong mổ

 

Dao điện

 

<5 ml

4

 

5-10ml

20

 

 
  • Cắt A bằng dao điện: 4 ca (8%) lượng máu mất < 5 ml, 26 ca (40%) lượng máu mất từ 5-10 ml.

 

 

 

3.4. Tỷ lệ chảy máu sau mổ

Bảng 3.4. Tỷ lệ chảy máu sau mổ

 

Dao điện

 

Chảy máu sớm

2

 

Chảy máu muộn

4

 

 
  • Chảy máu sớm (trong vòng 24h đầu) sau phẫu thuật gặp ở 2 trường hợp cắt bằng dao diện, được xử trí khâu cầm máu.
  • Chảy máu muộn (sau 24h sau phẫu thuật) gặp ở 4 trường hợp với cắt bằng dao diện.

3.5. Mức độ chảy máu sau mổ

Bảng 3.5. Mức độ chảy máu sau mổ

Mức độ chảy máu

Dao điện

 

A

0

 

B

2

 

C

2

 

  • 2 trường hợp chảy máu sớm mức độ C, 2 trường hợp được cắt bằng dao điện.
  • 3 trường hợp chảy máu muộn mức độ B, 2 trường hợp được cắt bằng dao điện,
  • 3.6. Số ngày dùng thuốc giảm đau

Bảng 3.6. Số ngày dùng thuốc giảm đau

 

Dao điện

<4 ngày

9

4-7 ngày

16

>7 ngày

8

  • Cắt bằng dao điện: có 9 ca dùng thuốc giảm đau dưới 4 ngày, 16 ca dùng thuốc giảm đau 4-7 ngày, 8 ca dùng thuốc > 7 ngày

 

 

 

CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Thời gian phẫu thuật

Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian cắt Amidan bằng dao điện ngắn nhất là 10 phút, dài nhất là 60 phút. Trung bình là 30 phút.

Trong nghiên cứu của Phạm Anh Tuấn, thời gian cắt Amidan bằng dao điện ngắn nhất là 5 phút, dài nhất là 35 phút. Trung bình là 22,5 phút.

Tác giả Trần Anh Tuấn, Nhan Trừng Sơn [12] khi sử dụng coblator thì thời gian phẫu thuật là từ 15-30 phút.

Tác giả Parson [24] thời gian phẫu thuật cắt Amidan bằng dao điện trung bình là 21 ± 6,7 phút. Tương tự, tác giả Shah [33] cắt bằng dao điện là 16,2 ±3,2 phút. Còn tác giả Storker [23] thì thời gian phẫu thuật cắt amidan bằng dao điện là 22,7 ± 13,5 phút.

Như vậy, rõ ràng thời gian phẫu thuật mang đậm dấu ấn cá nhân của từng phẫu thuật viên hơn là phương pháp phẫu thuật.

4.2. Cầm máu trong mổ

Về cầm máu trong mổ, đối với các bệnh nhân cắt Amidan bằng dao điện, có 2 trường hợp phải khâu thêm mũi chữ X để cầm máu, trong đó có 1 trường hợp phải dùng thêm thuốc cầm máu trong mổ. 1 trường hợp mất máu nhiều hơn 5ml đã được chỉ định thêm thuốc cầm máu để tăng cường khả năng cầm máu.

4.3. Lượng máu mất trong mổ

Đối với lượng máu mất trong mổ, chúng tôi quan sát thấy trong nghiên cứu lượng máu mất đa số chỉ trên dưới 5ml máu. Lượng máu mất này được chúng tôi ước lượng bằng máu thấm vào gạc trong lúc phẫu thuật. Chính vì vậy chúng tôi mạnh dạn lấy mốc 5 ml máu làm mốc để phân chia nhóm số liệu thu thập được.

Đối với các bệnh nhân cắt bằng dao điện, chỉ có 4 trường hợp là lượng máu mất dưới 5 ml. Có 20 bệnh nhân lượng máu mất từ 5-10ml.

Những Amidan hay chảy máu nhiều trong mổ thường là những amidan viêm nhiều lần ở người lớn tuổi, xơ hóa, hoặc có tiền sử áp xe quanh amidan trước đó.

So sánh với các nghiên cứu khác, theo tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh [14] lượng máu mất trong mổ cắt bằng dao điện là 9ml.

Tuy nhiên so sánh với lượng máu mất khi cắt bằng phương pháp bóc tách thòng lọng thì có khác biệt rõ rệt, cắt bằngphương pháp lạnh truyền thống lượng máu mất dao động tùy theo từng nghiên cứu, từ 20ml đến 70ml. Thậm chí có nghiên cứu cắt lạnh mất tới 95ml máu.

4.4. Tỷ lệ chảy máu

Chảy máu sớm gặp ở 2 trong 100 ca cắt Amidan. Đây là 2 ca cắt Amidan bằng dao điện (4%). Bệnh nhân sau mổ xuất hiện chảy máu tươi từ hốc mổ cắt Amidan, sau khi khám phát hiện có điểm chảy bệnh nhân đã được gây mê lại và khâu chữ X cầm máu.

Chảy máu muộn gặp ở 5 trường hợp, có 4 ca cắt bằng dao điện (8%),.

Như vậy có sự khác biệt về tỷ lệ chảy máu giữa các phương pháp có ý nghĩa thống kê với p < 0.05.

So sánh với các nghiên cứu trong nước, theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Thủy [18] thì tỷ lệ chảy máu sau cắt Amidan tại viện TMH TW là 2,16%. Theo tác giả Bùi Thế Sáu thì tỷ lệ chảy máu là 0,74% [9]. Như vậy tỷ lệ chảy máu sau cắt Amidan của chúng tôi cao hơn. Sở dĩ có sự khác biệt này là do nghiên cứu của chúng tôi có cỡ mẫu nhỏ hơn 2 nghiên cứu trên, số lượng bệnh nhân chưa đủ lớn.

Về tỷ lệ chảy máu sớm và muộn, tác giả Võ Diệu Linh [7] cho kết quả tỷ lệ chảy máu sớm là 36,9%, tỷ lệ chảy máu muộn là 63,1%. Như vậy có sự khác nhau giữa các nghiên cứu tại các bệnh viện khác nhau, tỷ lệ chảy máu sớm/ chảy máu muộn dao động từ 1/1,5 -1/4.

Khác với tác giả Nguyễn Thanh Thủy [18], thời gian chảy máu sớm nhiều hơn chảy máu muộn,  56,3% chảy máu sớm lớn hơn 43,7% chảy máu muộn. Sự khác biệt này có thể giải thích là thời điểm nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Thủy thì tỷ lệ chảy máu do phương pháp bóc tách thòng lọng nhiều hơn so với cắt bằng dao điện, vì vậy hay gặp chảy máu sớm hơn là chảy máu muộn.

4.5. Mức độ chảy máu sau mổ

Có 2 trường hợp chảy máu mức độ C phải gây mê khâu chữ X cầm máu là trường hợp chảy máu sớm gặp trong cắt Amidan bằng dao điện. Còn 4 trường hợp chảy máu mức độ B vào ngày thứ 7 được ép bông cầu oxy già và ngậm nước muối đá sau đó đã được kiểm soát.

So sánh với các nghiên cứu khác, theo tác giả Bùi Thế Sáu [9] mức độ chảy máu nhẹ gặp 81,5% trường hợp (tinh thần, da niêm mạc bình thường, Mạch < 100 lần/ph, Huyết áp bình thường, nhịp thở bình thường). Chảy máu vừa gặp 10,8% trường hợp. Chảy máu nặng gặp 7,7% trường hợp. Với kết quả này rõ ràng là trầm trọng hơn rất nhiều so với nghiên cứu của chúng tôi. Có lẽ vì nghiên cứu của tác giả là hồi cứu trên số lượng hồ sơ lớn hơn nên có sự khác biệt.

4.6. Số ngày dùng thuốc giảm đau

  Trong nghiên cứu của chúng tôi, số ngày dùng thuốc giảm đau được chia thành 3 mốc, < 4 ngày, 4-7 ngày và > 7 ngày. Các bệnh nhân được giải thích kỹ về tác dụng của thuốc giảm đau, và không uống khi không cần thiết.

  Đối với các trường hợp cắt bằng dao điện, có 9 trường hợp dùng thuốc < 4 ngày, 16 trường hợp dùng thuốc 1 tuần và 8 trường hợp dùng thuốc trên 1 tuần.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 100 bệnh nhân cắt Amidan dao điện và coblator trong thời gian từ 01/2018 – 6/2018 chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

  • Thời gian phẫu thuật trung bình của dao điện là 30 phút.
  • Lượng máu mất trong mổ:
    • Cắt bằng dao điện: 8% lượng máu mất < 5 ml, 40% mất 5-10ml
  • Tỷ lệ chảy máu:
    • cắt bằng dao điện: tỷ lệ chảy máu sớm là 4% và chảy máu muộn là 8% ở.
  • Độ đau sau mổ:

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

        TIẾNG VIỆT

  1. Phạm Trần Anh (2010). Góp phần tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến chảy máu sau phẫu thuật cắt Amidan tại bệnh viện Tai mũi họng Trung ương từ 5/2005 đến 12/2007. Y học thực hành, 705(2), 107-111.
  2. Nguyễn Ngọc Dung, Nhan Trừng Sơn (2010). Sử dụng comblator cắt Amidan trẻ em tại khoa nhi tổng hợp bệnh viện TMH TP Hồ Chí Minh từ tháng 6 đến tháng 8 2009. Tạp chí TMH Việt Nam số 55, tr 5-10.
  3. Hồ Phan Thị Ly Đa, Võ Lâm Phước, Đặng Thanh (2012). Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt amidan bằng dao điện đơn cực và lưỡng cực tại bệnh viện đại học y dược Huế. Nội san TMH 2012, 102-109
  4. Lê Công Định và cộng sự (2011). Đánh giá kết quả cắt amidan bằng dao mổ Gold Laser tại khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Namsố 3,   9-14.
  5. Nguyễn Nam Hà, Trần Đình Khả, Nguyễn Duy Từ, Huỳnh Hữu Thức (2008). Đặc điểm giải phẫu bệnh của amiđan viêm mạn tính ở người lớn được cắt amiđan tại Bệnh viện nhân dân Gia Định, TP.HCM. Y Hoc TP. Hồ Chí Minh  số 13 – phụ bản số 6 – 2009,273 – 277.
  6. Trần Công Hòa, Nguyễn Khắc Hòa, Nguyễn Thanh Thủy (2003). Phẫu thuật cắt Amidan: nhận xét 3962 trường hợp tại viện tai mũi họng. Nội san Tai mũi họng 2003, 23.
  7. Võ Diệu Linh (2010). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả xử trí các biến chứng sau cắt Amidan. Luận văn bác sỹ chuyên khoa II, trường đại học Y Dược Huế.
  8. Ngô Ngọc Liễn (2008). Giản yếu Tai Mũi Họng. Nhà xuất bản y học, tr 225; 231-232; 266.

 

  1. Bùi Thế Sáu (2012). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của biến chứng chảy máu sau cắt Amidan được xử trí tại bệnh viện tai mũi họng Trung ương. Luận văn thạc sỹ y học. Đại học Y Hà Nội.
  2. Nguyễn Tuấn Sơn (2012). Nghiên cứu chỉ định và đánh giá kết quả  điều trị của phương pháp cắt amidan bằng dao điện đơn cực.  Đại học Y Hà Nội.
  3. Nhan Trừng Sơn (2012) Tai mũi họng nhập môn. Cắt amidan p 290-295
  4. Trần Anh Tuấn, Nhan Trừng Sơn(2010). Sử dụng coblator cắt 50 ca amiđan người lớn tại cơ sở 2 Bệnh viện Đại học y dược TP.HCM trong 3 tháng hè 2009. Tạp chí TMH việt nam (55), 11-16.
  5. Lý Xuân Quang, Phạm Kiên Hữu (2007). Đánh giá kết quả sử dụng dao mổ siêu âm trong cắt Amidan. Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh (11). Phụ bản 1 tr 5-8.
  6. Nguyễn Hữu Quỳnh, Đặng Hoàng Sơn, Nguyễn VănĐức (2003). So sánh hai phương pháp cắt Amidan bằng phẫu tích thòng lọng với cắt amidan bằng phương pháp dao điện kim đơn cực ở trẻ em. Y học TP Hồ Chí Minh, tập 7. Tr 107-110.
  7. Lê Thanh Tùng, Võ Lâm Phước, Nguyễn Tư Thế, Phạm Ngọc Quang(2011). Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt amidan ở trẻ em bằng kỹ thuật coblation tại BV.Trung ương Huế. Nội san TMH 2012,tr 96-101.
  8. Phạm Anh Tuấn (2017). Đánh giá kết quả cắt Amidan bằng dao điện, comblator và plasma. Luận văn bác sĩ nội trú. Trường Đại học Y Hà Nội.
  9. Nguyễn Thị Thu Thư (2013). Đánh giá mức độ đau sau phẫu thuật của phương pháp cắt amidan bằng dao plasma. Khóa luận tốt nghiệp bác sỹ y khoa, Đại học Y Hà Nội.
  10. Nguyễn Thanh Thủy (2004). Nhận xét về tình hình chảy máu sau cắt Amidan tại bệnh viện Tai mũi họng Trung ương từ 2001-2003. Luận văn thạc sỹ y học, trường Đại học Y Hà Nội.

TIẾNG ANH

  1. Back L, Paloheimo M, Ylikoski J (2001). Traditional tonsillectomy compared with bipolar radiofrequency thermal ablation tonsillectomy in adults: a pilot study. Archives of Otolaryngology - Head and Neck Surgery, 127(9):1106–12.
  2. Belloso A, Morar P et al (2006), Randomized – Controlled Study comparing post operative pain between coblation palatoplasty and laser palatoplasty, Clin Otolaryngol, Apr (2): 138-143
  3. Jayasinghe H, Lee P, Williams A, Kerr AIG (2005). Randomised single blinded trial of outcome for coblation versus cold steel tonsillectomy. Emailed presentation.
  4. Shah UK, Galinkin J, Chiavacci R, Briggs M (2002). Tonsillectomy by means of plasma-mediated ablation: prospective, randomized, blinded comparison with monopolar electrosurgery. Archives of Otolaryngology - Head and Neck Surgery;128(6):672–6.
  5. Stoker KE, Don DM, Kang DR, Haupert MS, Magit A, Madgy DN (2004). Pediatric total tonsillectomy using coblation compared to conventional electrosurgery: a prospective, controlled single-blind study. Otolaryngology - Head and Neck Surgery;130(6):666–75.
  6. Parsons SP, Cordes SR, Comer B (2006). Comparison of posttonsilectomy pain using the ultrasonic scalpel, coblator, and electrocautery. Otolaryngology - Head and Neck Surgery, 134:106–13.
  7. Timms MS, Temple RH (2002). Coblation tonsillectomy: a double blind randomized controlled study. J Laryngol Otol ;116:450–2.

 

 

 

PROTOCOL

 

I. Hành Chính

Họ Tên : ………………………………………………………...Tuổi:…………Giới…………

Địa chỉ: ………………………………………………………………………………….…..….

Số vào viện : ………………………… Ngày Phẫu thuật:………/………/…………………….

Số điện thoại liên hệ :………………………………………………………………………..….             

Thời gian phẫu thuật: …………....Phút                        Lượng máu mất: □ < 5ml    □  5-10ml     □> 10m        

1

Thời gian dùng thuốc giảmđau sau mổ:……………..ngày

Số lần dùng thuốc giảmđau / ngày:…………………..lần/ngày

Thời gian bong giả mạc sau mổ: ………………………………….ngày sau mổ

Biến chứng chảy máu sau phẫu thuật ngày thứ nhất:

Biến chứng chảy máu muộn (7-9 ngày sau phẫu thuật)”

Xử trí biến chứng chảy máu sau mổ: □ Ngậm nước đá     □ bông cầu oxy già cầm máu

□ Gây mê khâu cầm máu

Biến chứng nhiễm trùng và biến chứng khác: ………………………………

 

 

 

Tác giả bài viết: Nguyễn Văn Tuấn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: bệnh viện

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn