01:41 ICT Chủ nhật, 24/03/2019
Bệnh viện Đa khoa huyện Hương Khê kính chào quý khách!

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 5


Hôm nayHôm nay : 61

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 8176

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 215649

Học tập HCM
60 năm ngành Y tế
Bộ y tế
Sở Y tế
Vắc xin rubella

LIÊN KẾT WEBSITE

Trang nhất » Tin Tức » Khoa Cận lâm sàng » Khoa Chẩn đoán hình ảnh

Đề án chụp cắt lớp vi tính

Thứ tư - 07/12/2016 13:56

ĐẶT VẤN ĐỀ

          Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) hay còn gọi là chụp CT scanner (CT), là kỹ thuật được phát minh bởi nhà vật lý người Anh Godfrey Hounsfield và bác sĩ Allan Cormack vào năm 1972. Vào năm 1979, Hounsfied và Cormack được nhận giải Nobel vật lý nhờ những ứng dụng của CT trong y học và khoa học.

Máy CT đầu tiên được đưa vào ứng dụng trong lâm sàng vào năm 1974-1976, lúc này máy CT chỉ được dùng để chụp sọ não, thời gian chụp một lát cắt mất vài giờ. Từ những năm 80 trở về sau, CT được ứng dụng rộng rãi hơn trong lâm sàng, được áp dụng cho tất cả các bộ phận trong cơ thể, thời gian chụp nhanh hơn và chất lượng hình ảnh cao hơn.

Các thế hệ máy CT không ngừng được cải tiến, từ máy một lát cắt, đến thế hệ máy chụp xoắn ốc (Spiral CT) đến thế hệ máy đa lát cắt (2, 4, 8, 16, 32, 64, 128, 256  đến 320 lát cắt) và máy chụp CT năng lượng kép (Dual-CT). Hiện nay, trên thế giới có trên 30.000 máy CT được lắp đặt.

CT scan còn được gọi là chụp cắt lớp vi tính hoặc chỉ CT - kết hợp một loạt các tia X-điểm từ nhiều góc độ khác nhau để tạo ra hình ảnh cắt ngang của xương và mô mềm bên trong cơ thể.

Các hình ảnh kết quả có thể được so sánh với một ổ bánh mì cắt lát. Bác sĩ sẽ có thể nhìn vào những lát cá nhân hoặc thực hiện trực quan bổ sung để làm hình ảnh 3-D. CT scan hình ảnh cung cấp nhiều thông tin hơn so với X-quang.

CT scan là đặc biệt thích hợp để nhanh chóng kiểm tra những người có thể bị tổn thương nội bộ từ tai nạn xe hơi hoặc các loại khác của chấn thương. CT scan cũng có thể hình dung bộ não và với sự giúp đỡ của vật liệu tương phản tiêm - kiểm tra tắc nghẽn hoặc các vấn đề khác trong các mạch máu.

Các bệnh viện ở nước ta, bệnh nhân được thực hiện thủ thuật này khá phổ biến, bệnh nhân được chỉ định chụp cắt lớp vi tính trước khi có chỉ định của bác sĩ để chẩn đoán bệnh hoặc trước khi làm phẩu thuật. Bệnh viện Đa khoa Hương Khê hiện tại chưa thực hiện kỷ thuật này, song gần đây do tiến bộ về chuyên môn, do nhu cầu xã hội đòi hỏi cũng như sự tiến bộ về khoa học kỷ thuật y học tại bệnh viện, xét thấy khoa chẩn đoán hình ảnh có đủ điều kiện về con người và cơ sở vật chất để thực hiện kỹ thuật này. Vì vậy chúng tôi xây dựng “đề án triển khai kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính tại Bệnh viện đa khoa Hương Khê” với mục đích nâng cao chất lượng phục vụ, khám chữa bệnh cho nhân dân huyện nhà.

ĐẠI CƯƠNG VỀ CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH (CT SCANNER)

I. KHÁI NIỆM CHUNG

Hiện nay chụp cắt lớp vi tính trong y khoa (hay còn gọi là CT Scan, CT Scanner) được ứng dụng khá phổ biến để chẩn đoán bằng hình ảnh các bệnh lý từ đầu tới chân.

Máy chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt là việc tăng số dãy đầu dò phát tia X trong hệ thống phát tia, làm tăng số hình và độ mỏng thu được trong cùng một đơn vị thời gian chụp. Hiện nay các loại máy chụp máy chụp cắt lớp gồm máy 1 lát, máy đa lát cắt từ 2, 4, 8, 16, 32, 64, 128, 256  đến 320 lát.

Nguyên lý hoạt động của máy là dùng hệ thống máy phát tia X quét xoay quanh trục của cơ thể theo mặt phẳng ngang (Axial), rồi tái tạo ra cấu trúc giải phẫu của cơ thể tại vị trí quét nhằm tìm ra hình ảnh bất thường bên trong cơ thể so với giải phẫu người bình thường. 

 Đối với các trường hợp chụp CT Scan có bơm thuốc tương phản (thuốc cản quang) thì CT Scan còn giúp khảo sát rõ tính chất tưới máu của khối u; hình thái, đường đi và các bất thường của hệ mạch máu; thậm chí còn đánh giá chức năng của một số cơ quan như thận, tim, …

Các máy chụp C.T Scan của các hãng khác nhau có các ưu thế phần mềm dựng hình  khác nhau giúp cho ra chất lượng hình ảnh khác nhau, tuy nhiên điều cốt lõi vẫn là phụ thuộc vào vận tốc quét và độ dày lát cắt.

ỨNG DỤNG

Ngày nay, CT được ứng dụng rộng rãi trên lâm sàng để phát hiện bệnh lý từ sọ não, đầu mặt cổ, tim, ngực, bụng, chậu, xương, mô mềm cho đến bệnh lý mạch máu não, cổ, mạch máu chi và các mạch máu tạng khác. CT còn được dùng để hướng dẫn phẫu thuật, xạ trị, theo dõi sau phẫu thuật. Kỹ thuật 3D-CT cho phép đánh giá chính xác vị trí tổn thương trong không gian 3 chiều, từ đó định hướng tốt cho phẫu thuật cũng như xạ trị. Kỹ thuật này còn dùng để tái tạo 3D trong các bệnh lý bất thường bẩm sinh, giúp cho các nhà phẫu thuật tạo hình chỉnh sửa tốt hơn các dị tật bẩm sinh.

CHỈ ĐỊNH

1. CT Scan sọ não

Bệnh cảnh chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương đầu mặt, đa chấn thương.

Bệnh cảnh tai biến mạch máu não: Tai biến mạch máu não thoáng qua, tai biến mạch máu não có dấu hiệu thần kinh khu trú (liệt mặt, liệt nửa người, thất ngôn…).

Dấu hiệu thần kinh: động kinh, co giật, chóng mặt, đau nửa đầu.

Hội chứng tăng áp lực nội sọ (đau đầu, buồn nôn, nhìn mờ…).

Một số bệnh lý khác: viêm não, viêm màng não, áp xe não, lao não-màng não, sa sút trí tuệ…

2. CT Scan đầu mặt cổ

Chấn thương vùng đầu mặt cổ

U vùng đầu mặt cổ

Viêm, áp xe mô mềm vùng cổ

Bệnh lý các xoang và hốc mũi

Dị vật đường ăn và đường hô hấp

3. CT Scan cột sống

Chấn thương cột sống

Đa chấn thương, trong đó có nghi ngờ chấn thương cột sống

Bệnh lý khác: U xương lành tính, u xương ác tính, di căn xương

Bệnh nhiễm trùng: Lao cột sống, áp xe mô mềm cạnh sống, hội chứng chèn ép tủy

Bất thường bẩm sinh cột sống: Gù cột sống, vẹo cột sống, bất sản đốt sống, dính đốt sống

Bệnh lý vôi hóa dây chằng dọc trước, dọc sau.

4. CT Scan phổi và lồng ngực

Bệnh lý u phổi: Xác định kích thước, số lượng, tính chất của u; đánh giá sự xâm lấn và lan tràn của u.

Bệnh lý phế quản: Dãn phế quản, viêm tiểu phế quản cấp.

Bệnh lý phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh lý nhiễm trùng phổi: Viêm phổi, áp xe phổi, lao phổi, nấm phổi.

Bệnh lý khác: Bệnh bụi phổi, bệnh lý phổi kẽ, bất thường bẩm sinh, phổi biệt lập, ho ra máu kéo dài…

Bệnh lý màng phổi: Tràn dịch, tràn khí màng phổi, u màng phổi, ổ cặn màng phổi.

Bệnh lý trung thất: U trung thất, u tuyến ức, tuyến giáp thòng, kén màng tim, kén màng phổi, hạch trung thất.

Bệnh lý mạch máu: Phình bóc tách động mạch, thuyên tắc động mạch phổi, bất thường mạch máu bẩm sinh.

Bệnh lý xương thành ngực: Xương sườn, sụn sườn, xương ức, đốt sống ngực.

Chấn thương ngực hoặc nghi ngờ chấn thương ngực.

5. CT Scan bụng chậu

Bệnh lý gan và đường mật: U gan lành và ác tính, chấn thương gan, ung thư đường mật, sỏi mật, viêm và áp xe gan, nhiễm ký sinh trùng gan, xơ gan,…

Bệnh lý tụy, lách, thượng thận: U, viêm, di căn, chấn thương.

Bệnh lý thận và tiết niệu: Sỏi, u, nhiễm trùng, chấn thương.

Bệnh lý đường tiêu hóa: Tắc ruột, xoắn ruột, viêm ruột, ruột thừa viêm, lao, u đại tràng….

Bệnh lý tử cung, buồng trứng, tiền liệt tuyến

6. CT Scan xương khớp

Chấn thương xương

Bệnh lý xương: Viêm xương, u xương, di căn xương, lao xương

Bất thường bẩm sinh xương

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Không có chống chỉ định tuyệt đối chụp CT.

Những chống chỉ định liên quan đến thuốc cản quang: Bệnh nhân suy thận nặng, suy chức năng gan nặng, dị ứng thuốc cản quang, sốt cao mất nước nặng.

Bệnh nhân có thai, đặc biệt trong 3 tháng đầu của thai kỳ (vào thời kỳ này, các tế bào thai nhi chưa thành thục, rất nhạy cảm với tia X, nếu tiếp xúc với tia X có thể làm xuất hiện các dị tật của thai nhi).

II. CHỤP CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH ĐƯỢC THỰC HIỆN NHƯ THẾ NÀO?

Sau khi có chỉ định của bác sĩ lâm sàng, người được chụp cắt lớp vi tính sẽ đến gặp bác sĩ X quang để :

- Được giải thích về cách chụp

- Cần mang theo các xét nghiệm hay các kết quả, hình ảnh của các phương tiện chẩn đoán khác nếu có (siêu âm, nội soi… có liên quan) để bác sĩ X quang hiểu rõ thêm về bệnh trạng và đưa ra qui trình chụp thích hợp

- Kiểm tra mạch, huyết áp, cân nặng và các xét nghiệm chức năng thận (urea, créatinine huyết thanh…) để tính toán liều lượng và loại thuốc cản quang sẽ sử dụng

Trình tự một cuộc chụp cắt lớp vi tính thông thường như sau:

1. Trước khi chụp

Tháo bỏ tất cả các vật bằng kim loại như kẹp tóc, áo nịt ngực có gọng kim loại, trang sức, kính, đồng hồ, thiết bị trợ thính và răng giả vì các vật này sẽ gây nhiễu ảnh khi chụp.

Bệnh nhân phải thông báo cho nhân viên y tế nếu có một trong các bệnh sau: tiểu đường, hen suyễn, bệnh tĩnh mạch, thận và dị ứng thuốc.

Bệnh nhân phải thông báo cho nhân viên y tế nếu mình có thai hoặc nghi ngờ có thai.

Bệnh nhân hoặc thân nhân cần ký vào bản cam kết tiêm thuốc cản quang nếu như cần tiêm thuốc cản quang.

Bệnh nhân cần nhịn ăn trước 4-6 giờ nếu cần tiêm thuốc cản quang, bệnh nhân vẫn có thể uống nước với lượng vừa phải trước khi chụp 2 giờ.

2. Trong khi chụp

Bệnh nhân nằm ngữa trên bàn trong phòng chụp, bệnh nhân có thể nằm theo một số tư thế đặc biệt theo yêu cầu của chẩn đoán.

Thời gian chụp thường kéo dài 3-5 phút, một số trường hợp kéo dài hơn (15-30-45 phút) thì nhân viên y tế sẽ giải thích trong quá trình chụp.

Bệnh nhân cần nằm yên trong quá trình chụp. Nín thở trong quá trình chụp theo hướng dẫn của nhân viên y tế đối với các trường hợp chụp ngực và bụng.

Đối với bệnh nhân có tiêm thuốc cản quang thì thường có cảm giác nóng rát dọc theo tay và nóng ở mặt khi bơm thuốc cản quang, trong trường hợp này bệnh nhân cần nằm yên để có hình ảnh tốt nhất.

Một số trường hợp chụp cắt lớp vi tính đường tiêu hóa, nhân viên y tế có thể yêu cầu bệnh nhân uống thuốc cản quang hoặc nước để tăng độ tương phản cấu trúc ống tiêu hóa, để giúp cho chẩn đoán được tốt hơn.

3. Sau khi chụp

Đối với bệnh nhân không có tiêm thuốc cản quang thì có thể hoạt động bình thường. Có thể ăn uống nếu không phải làm thêm các xét nghiệm khác (tùy từng loại xét nghiệm).

Đối với bệnh nhân có tiêm thuốc cản quang: cần đè tay vào vị trí kim tiêm thuốc cản quang trong vòng 5-10 phút để tránh chảy máu. Trong vòng 24h sau tiêm thuốc cản quang, cần uống nhiều nước để tăng đào thải thuốc cản quang ra khỏi cơ thể.

Sau khi chụp nếu có bất thường như: chóng mặt, nôn, buồn nôn, ngứa, đỏ da, mệt ngực, sốt, khó thở…. thì cần thông báo ngay với nhân viên y tế hoặc đến cơ sở y tế gần nhất để được thăm khám.

III. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ TRIỂN KHAI CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH

- Con người: bác sĩ và kỹ thuật viên chẩn đoán hình ảnh phải được đào tạo bài bản tại các trung tâm về chẩn đoán hình ảnh tuyến Trung ương, ngoài kiến thức chuyên môn, bác sĩ và kỹ thuật viên chẩn đoán hình ảnh cần phối hợp nhịp nhàng, có kỹ năng tốt để hợp tác cùng người bệnh thực hiện tốt kỹ thuật.

          - Phải có phòng chụp X quang đạt tiêu chuẩn với phương tiện cấp cứu tốt, hệ thống cung cấp điện nước, có phòng lưu bệnh nhân.

          THUỐC CẢN QUANG

Thuốc cản quang là những loại thuốc được tiêm vào cơ thể để thấy rõ hơn một mô hoặc tổn thương. Thuốc cản quang có chứa Iode sẽ làm cho những cấu trúc hoặc tổn thương bắt thuốc có màu trắng sáng trên hình chụp cắt lớp vi tính, điều này sẽ giúp phân biệt nó với các cấu trúc khác xung quanh nó.

Các thuốc cản quang mới thường có độ dung nạp tốt, tuy nhiên một số tác dụng phụ có thể xảy ra như đỏ phừng mặt, buồn nôn và nôn. Một số phản ứng khác như ngứa, nổi mề đay, lạnh run hoặc sốt hiếm khi xảy ra và tùy thuộc vào từng cơ địa bệnh nhân.

Một bệnh nhân có dị ứng thực sự với một loại thuốc cản quang chứa iode sẽ sinh ra phản ứng nếu ta tiêm lại chất cản quang này. Phải nhận biết được các dấu hiệu của phản ứng dị ứng, để lần sau, nếu cần tiêm thuốc cản quang thì tránh dùng thuốc đã bị dị ứng trước đó.

1. Chỉ định tiêm thuốc cản quang

Phần lớn trường hợp chụp CT bụng cần bơm thuốc cản quang, trừ khi đã biết rõ nguyên nhân gây cơn đau quặn thận là do sỏi niệu quản.

Các trường hợp nghi u.

Phần lớn các trường hợp nghĩ viêm, áp xe cần tiêm thuốc cản quang. Ngoại trừ viêm phổi đã chẩn đoán chắc chắn và không cần phân biệt với các bệnh lý khác.

Bệnh lý mạch máu: dị dạng mạch máu, phình mạch, giả phình, bóc tách động mạch,…

Một số trường hợp đặc biệt: đánh giá vùng tái tưới máu của tổn thương, tìm nguồn mạch nuôi của phổi biệt lập, chẩn đoán mức độ vách hóa của tụ máu dưới màng cứng giai đoạn bán cấp…

2. Chống chỉ định tiêm thuốc cản quang

2.1. Chống chỉ định tuyệt đối

Mất nước nặng

Dị ứng với Iode.

2.2. Chống chỉ định tương đối:

Suy thận độ III, IV: Nếu cần phải tiêm thuốc, phải lên kế hoạch chạy thận nhân tạo ngay sau khi bơm thuốc cản quang.

Suy gan, suy tim mất bù.

Đa u tủy, đặc biệt bệnh nhân thiểu niệu. Nếu cần phải chụp thì cần truyền dịch cho bệnh nhân.

Cơ địa dị ứng: Nếu cần chụp thì có thể cho bệnh nhân dùng Steroid 13, 5 và 1 giờ trước khi chụp, có thể dùng kháng histamine và chuẩn bị sẵn phương tiện hồi sức.

Bệnh mạn tính: Cường giáp, đái tháo đường, hồng cầu hình liềm, hen suyễn.

Phụ nữ có thai.

CÁC CƠ SỞ ĐỂ TRIỂN KHAI ĐỀ ÁN

Bệnh viện Đa khoa Hương Khê là Bệnh viện hạng II được phân cấp các phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại, tiên tiến trong đó có phòng chụp X quang đạt tiêu chuẩn. Để chuẩn bị tốt cho việc triển khai kỹ thuật tiên tiến này, trong nhiều năm qua bệnh viện đã chủ động chuẩn bị cơ sở vật chất cũng như nhân lực một cách chu đáo, cẩn thận, cụ thể:

1.     Về cơ sở vật chất:

          -Bệnh viện được trang bị phòng chụp X quang đạt chất lượng, diện tích phòng đủ rộng, hệ thống cung cấp điện, nước đầy đủ.

          - Hệ thống chụp X quang và rửa phim khô kỹ thuật số tự động của Nhật Bản sản xuất kèm hệ thống máy máy tính và in trả kết quả.

          -Máy phát điện luôn sãn sàng khi có sự cố mất điện.

          -Thuốc, hóa chất và các phương tiện cấp cứu tại chổ khi cần thiết.

2.     Về nhân lực:

          Bệnh viện có nguồn nhân lực chất lượng cao được đào tạo bài bản tại bệnh viện tuyến trung ương, trường Đại học y dược, có nhiều năm kinh nghiệm trong các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh bao gồm:

- 02 Bác sĩ chuyên khoa cấp I chẩn đoán hình ảnh

- 02 kỹ thuật viên chẩn đoán hình ảnh, trong đó 01 kỹ thuật viên đại học và 01 kỹ thuật viên cao đẳng

- 01 hộ lý, giúp việc

KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT

          Với những ưu điểm của kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính nêu trên, cùng với sự tiến bộ về mặt chuyên môn của đội ngũ bác sĩ và nguồn nhân lự tại khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viên đa khoa Hương Khê, hơn nữa huyện Hương Khê là huyện miền núi, cách xa trung tâm tỉnh lỵ, để người bệnh được tiếp cận các phương pháp chữa bệnh tiên tiến, hiện đại, cũng như góp phần vào sự phát triển của bệnh viện, chúng tôi viết Đề án này với mong muốn được triển khai kỹ thuật thuật ‘chụp cắt lớp vi tính tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hương Khê’ với mục đích phục vụ nhân dân huyện nhà.

Rất mong được sự giúp đỡ của các cơ quan có thẩm quyền cấp trên cùng các đồng nghiệp quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện cho chúng tôi thực hiện thành công đề án này.

         

 

                                                                                  

 

 

 

 

Tác giả bài viết: Bs Nguyễn Duy Sâm

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn