05:44 +07 Thứ sáu, 24/05/2019
Bệnh viện Đa khoa huyện Hương Khê kính chào quý khách!

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 23


Hôm nayHôm nay : 248

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 7699

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 235451

Học tập HCM
60 năm ngành Y tế
Bộ y tế
Sở Y tế
Vắc xin rubella

LIÊN KẾT WEBSITE

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức hoạt động » Chuyên môn

So sánh hiệu quả cắt Amidan bằng phương pháp Coblater và Dao điện

Chủ nhật - 10/12/2017 09:59
So sánh hiệu quả cắt Amidan bằng phương pháp Coblater và Dao điện

So sánh hiệu quả cắt Amidan bằng phương pháp Coblater và Dao điện

Viêm amidan là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ, cũng có khi gặp ở người lớn. Amidan viêm có thể điều trị bằng nội khoa hay ngoại khoa, trong đó phương pháp cắt bỏ cắt Amiđan viêm thường được áp dụng khi điều trị nội khoa không đáp ứng

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Amidan là tổ chức nằm ở bên thành họng, giao điểm của đường ăn và đường thở nên có chức năng bảo vệ, giúp tăng khả năng chống đỡ của mũi họng với các virus, vi khuẩn gây bệnh, bởi vậy Amidan rất dễ bị viêm [8].
Viêm amidan là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ, cũng có khi gặp ở người lớn. Amidan viêm có thể điều trị bằng nội khoa hay ngoại khoa, trong đó phương pháp cắt bỏ cắt Amiđan viêm thường được áp dụng khi điều trị nội khoa không đáp ứng [5], [6]. Đây là phẫu thuật phổ biến nhất trong chuyên khoa tai mũi họng. Có nhiều phương pháp phẫu thật như bằng dụng cụ lạnh, dao điện đơn cực thường, dao điện lưỡng cực, laser, comblator,... 

Hạn chế hay gặp của các phương pháp cắt Amiđan là vấn đề chảy máu trong và sau mổ, đau sau mổ, thời gian hồi phục kéo dài [1], [6], [7].  

Tại bệnh viện đa khoa huyện Hương Khê, có hai kỹ thuật cắt amidan đang được áp dụng, đó là cắt Amidan bằng dao điện và cắt Amidan bằng máy Comblator.

Trong kỹ thuật cắt Amidan bằng máy comblator, sử dụng sóng radio cao tần và đầu dò đa chức năng trong phẫu thuật. Thiết bị đầu dò sẽ vừa cắt amidan bằng nhiệt vừa tưới nước và hút dịch cùng với mảnh vụn, đồng thời đốt các điểm chảy máu

Xuất phát từ những vấn đề trên, nay chúng tôi tiến hành đề tài: “So sánh tính hiệu quả giữa kỹ thuật cắt Amidan bằng dao điện và kỹ thuật cắt Amidan bằng máy Comblator tại Bệnh viện đa khoa huyện Hương Khê
Với mục tiêu: Đánh giá các mặt ưu điểm và nhược điểm của kỹ thuật cắt Amidan bằng dao điện và kỹ thuật cắt Amidan bằng máy Comblator.

 

 

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Lịch sử cắt Amidan

1.1.1. Trên thế giới

Cắt Amidan là một phẫu thuật được biết đến từ lâu và vẫn còn tồn tại và phổ biến đến ngày nay, là phẫu thuật chiếm tỷ lệ cao nhất rong lĩnh vực tai mũi họng

Năm 1930: Fowler đưa ra phương pháp: “cắt bỏ toàn bộ amiđan mà không làm tổn thương các tổ chức xung quanh”. Năm 1954: Sluder đưa ra phương pháp cắt amidan bằng dụng cụ dao lạnh mang tên ông. Năm 1955: Angles đưa ra phương pháp cắt amidan bằng thòng lọng. Năm 1990: Ethicon cắt amidan bằng dao siêu âm. Năm 1994: Krepsi, Barteles Cắt amidan bằng laser. Năm 1997: Akkielah thực hiện cắt amidan bằng dao điện. Năm 1998: Ca phẫu thuật cắt amidan bằng dao plasma được thực hiện lần đầu tiên. Năm 2002: Koltai cắt Amidan bằng Microdebrider. Năm 2002: Timmes cắt Amidan bằng Coblator và so sánh kết quả với cắt bằng dao điện [25].

Belloso A và cộng sự (2006) nghiên cứu trên 41 bệnh nhân cắt amidan bằng Coblator và laser palatoplasty để điều trị chứng ngáy ngủ thấy tác dụng điều trị của 2 nhóm rất tốt tuy nhiên nhóm cắt bằng coblator ít đau sau mổ hơn hẳn so với nhóm cắt bằng laser [20].

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy, phẫu thuật cắt amidan ngày nay rất phát triển và ngày càng có nhiều thành tựu tiên tiến. Bệnh nhân chịu ít biến chứng hơn, khả năng hồi phục sau mổ nhanh hơn nhiều so với trước.

1.1.2. Việt Nam

Từ năm 1960 đến năm 2000 hai kỹ thuật chính được sử dụng tại Việt Nam là phương pháp sử dụng Sluder và thòng lọng để cắt amidan.

Hồ Phan Thị Ly Đa, Võ Lâm Phước và Đặng Thanh năm 2012 đánh giá kết quả phẫu thuật cắt amidan bằng dao điện đơn cực và lưỡng cực tại bệnh viện trung ương Huế [3].

Qua các nghiên cứu trên thấy được sự quan tâm của các nhà Tai Mũi Họng lâm sàng về phẫu thuật cắt amidan và mong muốn ngày càng giảm đi những biến chứng trong phẫu thuật này.

1.2. Các phương pháp cắt amidan

Có rất nhiều phương pháp và kỹ thuật cắt amidan, trải qua thời gian, các phương pháp đều có những ưu nhược điểm nhất định phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện phẫu thuật [11] .

1.2.1. Cắt Amidan bằng sluder

Là phương pháp dùng dụng cụ Sluder –Ballenger để cắt amidan.

Phương pháp này thường dùng ở trẻ 6 đến 10 tuổi, phương pháp vô cảm là gây mê Kelene qua mask, tư thế ngồi, có người ngồi kèm. Trẻ được gây mê từ 5 đến 10 phút. Đối với trẻ lớn trên 10 tuổi có thể gây tê.  Gồm có 4 thì chính. Phẫu thuật viên phải sử dụng cả 2 tay, tay phải cắt amidan phải, tay trái cắt amidan trái. Nên cắt bên tay không thuận trước để dành tay thuận làm sau vì khi đến amidan thứ hai họng sẽ đầy máu khó nhìn nên phải làm nhanh, bệnh nhân sắp tỉnh dậy.

b. Cắt amidan bằng bóc tách thòng lọng

Phương pháp này sử dụng dao lưỡi còn có cán, que bóc tách và dụng cụ cắt với thòng lọng. Phương pháp này thường dùng ở trẻ nhỏ cũng như người lớn [14]. 

1.2.2. Cắt bằng dao điện

Phẫu thuật điện là quá trình sử dụng dòng điện tần số cao để cắt và làm đông khô [10], [14]. Kỹ thuật phẫu thuật điện chia làm 2 loại: kỹ thật đơn cực (monoplar) và kỹ thuật lưỡng cực (bipolar). Thiết bị điện này tạo ra sóng điện từ có tần số rất cao đạt tới từ 350.000 chu kỳ/giây đến 400.000 chu kỳ/giây [19]. Các thiết bị phẫu thuật điện hiện nay ngoài việc tạo ra các sóng thuần nhất cho việc cắt hoặc đông còn có thể tạo ra các sóng hỗn hợp cho cả việc cắt hoặc đông. Nhiệt độ cắt của dao điện từ 250-300oC.

Chế độ cắt Amidan:

-  Ưu điểm:

·        Dao điện monopolar là dụng cụ phẫu thuật phổ biến tại các phòng mổ, chi phí vật tư không lớn

·        Dễ sử dụng, có thể tăng hay giảm cường độ dòng điện dễ dàng

·        Dễ dàng thao tác dao điện khi cắt amidan do dao điện thường nhỏ gọn dễ xoay sở trong hốc mổ amidan phẫu trường hẹp, bipolar nhỏ gọn có nhiều kích thước đầu có thể cầm máu dễ dàng các mạch máu nhỏ.

-         Nhược điểm

·        Nhiệt độ dao điện monopolar và bipolar khá lớn, gây bỏng tổ chức nhiều hơn các loại dao thế hệ mới.

1.2.3. Cắt Amidan bằng Coblator

Về nguyên tắc Coblator sử dụng dòng điện được truyền qua một lớp dung dịch dẫn điện sẽ tạo ra một lớp phân tử ở trạng thái plasma, các hạt mang điện đi qua lớp plasma này được tăng năng lượng để bẻ gãy liên kết giữa các mô và tổ chức. Dung dịch dẫn điện này chính là nước muối, khi sóng năng lượng điện tần số radio đi qua dung dịch nước muối sẽ phân giải phân tử NaCl thành các ion Na+ và Cl- tạo ra một lớp plasma đủ năng lượng để bẻ gãy liên kết giữa các tế bào. Nhiệt độ cắt là từ 40-700C [2], [15], [16]. Chế độ cắt Amidan:

-  Cắt bằng chế độ Cắt: đặt máy ở chế độ 7, Cầm máu bằng chế độ Cầm máu, đặt máy ở chế độ: 3

-  Ưu điểm:

·        Là loại dao thế hệ mới, nhiệt độ tác động để cắt tổ chức thấp hơn dao điện nên ít làm tổn thương mô hơn.

·        Cầm máu tổ chức tốt hơn do có chế độ cầm máu cài đặt sẵn và nước làm mát nên nhiệt độ thấp hơn bipolar

·        Đầu cắt tù nên cắt amidan một cách từ từ do đó tránh các biến chứng do động tác không đúng của các phẫu thuật viên thiếu kinh nghiệm.

-         Nhược điểm:

·        Chi phí máy và vật tư tiêu hao đắt hơn dao điện

·        Đòi hỏi phẫu thuật viên kinh nghiệm để điều khiển lưỡi dao đúng động tác

1.3. Biến chứng cắt Amidan

1.3.1. Biến chứng chảy máu

Trong phẫu thuật cắt amidan, khác với các phẫu thuật khác thông thường bác sỹ phẫu thuật sẽ không thắt mạch cũng không khâu vêt mổ lại. Vì thế biến chứng chảy máu có thể xảy ra [1], [5], [9]. 

Mức độ chảy máu: được chia làm các mức độ dựa vào dấu hiệu lâm sàng và các phương pháp xử trí cần thiết áp dụng.

1.3.2. Biến chứng đau sau phẫu thuật

Đau là nỗi lo sợ của nhiều bệnh nhân kể cả người lớn và trẻ em sau phẫu thuật cắt amidan. Đau sau mổ gây cảm giác rất khó chịu làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý người bệnh, làm chậm quá trình hồi phục sau phẫu thuật đặc biệt làm tăng nguy cơ trở thành đau mạn tính.

1.3.3. Biến chứng gây mê

Biến chứng gây mê thường gặp ở bệnh nhân nhi, tuổi còn quá nhỏ hoặc sức khỏe yếu.Xử trí: bỏ gây mê, cho trẻ nằm đầu thấp và làm cấp cứu ngừng tuần hoàn, hô hấp nhân tạo.

1.3.4. Biến chứng nhiễm trùng

Nhiễm trùng sau phẫu thuật có thể xảy ra nhưng tỷ lệ càng ngày càng ít đi cả về tần số và mức độ nguy hiểm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Mẫu nghiên cứu

Gồm 100 bệnh nhân được phẫu thuật cắt amidan bằng 2 phương pháp: 50 bệnh nhân cắt amidan bằng dao điện, 50 bệnh nhân cắt amidan bằng coblator tại Bệnh viện đa khoa huyện Hương Khê.

2.1.2. Thời gian nghiên cứu:Từ tháng 01/2017 đến tháng 06/2017

2.1.3. Địa điểm nghiên cứu:Bệnh viện đa khoa huyện Hương Khê.

2.1.4. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

- Bệnh nhân có chỉ định cắt Amidan theo tiêu chuẩn của hiệp hội phẫu thuật và đầu cổ Hoa Kỳ 2002, chỉ chọn các bệnh nhân chỉ định cắt do viêm amidan mạn tính, quá phát, viêm amidan biến chứng.

- Bệnh nhân từ 08 tuổi trở lên

- Được phẫu thuật cắt Amidan bằng dao điện và coblator, có hồ sơ bệnh án ghi chép đầy đủ.

- Bệnh nhân được theo dõi hậu phẫu vào ngày thứ 1;2 và 7, được khám lại vào ngày thứ 7 và 14 sau mổ.

- Chỉ chọn bệnh nhân thực hiện 1 phẫu thuật duy nhất là cắt amidan

- Bệnh nhân đồng ý hợp tác nghiên cứu.

2.1.5. Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân có chỉ định cắt Amidan khác như viêm amidan quá phát nghi ngờ u, u nhú amidan, hoặc dài mỏm trâm.

- Bệnh nhân không hoàn chỉnh hồ sơ bệnh án nghiên cứu

- Bệnh nhân không hợp tác nghiên cứu hoặc không theo dõi đầy đủ.

- Bệnh nhân ở quá xa không thể khám lại theo hẹn

- Bệnh nhân thực hiện nhiều phẫu thuật khác (như nạo VA …)

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu mô tả từng trường hợp.

2.2.2. Phương tiện nghiên cứu

- Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân

- Phiếu điều tra nghiên cứu

- Bảng đánh giá điểm đau

- Dao điện

- Máy Comblator II của Mỹ.

2.3. Các thông số nghiên cứu

2.3.1. Đánh giá trong phẫu thuật

- Thời gian phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật (phút): được tính từ lúc đặt banh mở miệng đến khi lấy hết mô amidan hai bên, cầm máu hoàn toàn.

Lượng máu mất trong phẫu thuật

2.3.2. Theo dõi sau mổ

2.3.2.1. Chảy máu sau mổ

Định nghĩa là chảy máu bắt đầu tính từ sau khi rút ống nội khí quản, được đánh giá mức độ chảy máu gồm 5 mức độ A, B, C D, E.

Thời gian theo dõi: sau khi ra viện bệnh nhân sẽ được hẹn khám lại và quay trở lại bệnh viện bất cứ khi nào có dấu hiệu chảy máu.

-         Mức độ chảy máu:

·        Mức độ A: Nước bọt có lẫn dây máu

·        Mức độ B: Có điểm chảy máu, có máu đỏ tươi chảy khi khám

·        Mức độ C: Chảy máu phải can thiệp gây mê cầm máu

·        Mức độ D: Mất máu nhiều phải truyền máu và gây mê cầm máu

·        Mức độ E: Nguy hiểm tính mạng hoặc thậm chí tử vong do mất máu, shock mất máu.

2.3.2.2. Đánh giá mức độ đau

- Thang điểm đau Numerical pain scale: có mức điểm từ 0-10 điểm, sử dụng cho bệnh nhân >8 tuổi. Thang điểm này là các số từ 0 đến 10 tương ứng với mức độ đau. Hàng chữ là tương ứng với mức độ đau. Bệnh nhân cũng được đánh giá mức độ đau ở ngày thứ 1; 2 và 7 sau mổ.

2.4. Xử lý số liệu 

Số liệu nghiên cứu được xử lý bằng các thuật toán thống kê y học, sử dụng chương trình toán thống kê SPSS 20.0.

2.5. Đạo đức nghiên cứu

- Tất cả các bệnh nhân nghiên cứu đều được giải thích đầy đủ, rõ ràng về những lợi ích cũng như các biến chứng có thể xảy ra. Được bệnh nhân và người nhà đồng ý.

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

 

Qua nghiên cứu 100 trường hợp cắt Amidan tại bệnh viện đa khoa huyeebj Hương Khê từ tháng 01/2017 – 6/2017 chúng tôi thu được kết quả sau:

3.1. Thời gian phẫu thuật

Bảng 3.1. Thời gian phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật (phút)

Dao điện

Coblator

Ngắn nhất

10

15

Dài nhất

60

120

Trung bình

30

60

P

P < 0.05

Thời gian phẫu thuật thay đổi rất lớn theo từng phẫu thuật viên. Điều này thể hiện kinh nghiệm và kỹ thuật của từng phẫu thuật viên.

·Cắt A bằng dao diện: thời gian phẫu thuật ngắn nhất là 10 phút, dài nhất là 60 phút, trung bình là 30 phút/ ca.

·Cắt A bằng coblator: thời gian ngắn nhất là 15 phút, dài nhất là 120 phút, thời gian trung bình là 60 phút/ ca.

·Sự khác nhau giữa thời gian phẫu thuật của 2 phương pháp khác biệt có ý nghĩa thống kê p< 0.05.

 

 

 

 

3.2. Cầm máu trong mổ

Bảng 3.2. Khả năng cầm máu trong mổ

 

Dao điện

Coblator

Khâu chữ X

2

0

Thuốc cầm máu

5

0

P

P < 0,05

 

·Cắt A bằng dao điện: có 2 trường hợp phải khâu chữ X để cầm máu, 5trường hợp phải sử dụng thêm thuốc cầm máu trong mổ.

·Cắt A bằng Coblator: không có ca nào phải khâu cầm máu.

·Sự khác biệt về khả năng cầm máu trong mổ của 2 phương pháp khác nhau có ý nghĩa thống kê với p< 0.05.

3.3. Lượng máu mất trong mổ

Bảng 3.3. Lượng máu mất trong mổ

 

Dao điện

Coblator

<5 ml

4

20

5-10ml

20

10

p

< 0.05

 

·        Cắt A bằng dao điện: 4 ca (8%) lượng máu mất < 5 ml, 26 ca (40%) lượng máu mất từ 5-10 ml.

·        Cắt A bằng coblator:  20 ca (40%) lượng máu mất < 5 ml, 10 ca (20%) lượng máu mất 5-10 ml.

·        Sự khác biệt về lượng máu mất của 2 phương pháp có ý nghĩa thống kê với p< 0.05.

 

 

 

3.4. Tỷ lệ chảy máu sau mổ

Bảng 3.4. Tỷ lệ chảy máu sau mổ

 

Dao điện

Coblator

Chảy máu sớm

2

0

Chảy máu muộn

4

1

              p

< 0.05

 

·        Chảy máu sớm (trong vòng 24h đầu) sau phẫu thuật gặp ở 2 trường hợp cắt bằng dao diện, được xử trí khâu cầm máu.

·        Chảy máu muộn (sau 24h sau phẫu thuật) gặp ở 4 trường hợp với cắt bằng dao diện, 1 ca cắt bằng coblator.

·        Tỷ lệ chảy máu sau mổ của 2 phương pháp có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p< 0.05.

3.5. Mức độ chảy máu sau mổ

Bảng 3.5. Mức độ chảy máu sau mổ

Mức độ chảy máu

Dao điện

Coblator

A

0

0

B

4

1

C

2

0

D

0

0

·        2 trường hợp chảy máu sớm mức độ C, 2 trường hợp được cắt bằng dao điện.

·        3 trường hợp chảy máu muộn mức độ B, 2 trường hợp được cắt bằng dao điện, 1 trường hợp được cắt bằng Comblator.

· Sự khác nhau giữa mức độ chảy máu giữa 2 phương pháp khác biệt có ý nghĩa thống kê p< 0.05

3.6. Số ngày dùng thuốc giảm đau

Bảng 3.6. Số ngày dùng thuốc giảm đau

 

Dao điện

Coblator

<4 ngày

9

20

4-7 ngày

16

12

>7 ngày

8

0

·        Cắt bằng dao điện: có 9 ca dùng thuốc giảm đau dưới 4 ngày, 16 ca dùng thuốc giảm đau 4-7 ngày, 8 ca dùng thuốc > 7 ngày

·        Cắt bằng coblator: 20 ca dùng thuốc dưới 4 ngày, 12 ca dùng thuốc từ 4-7 ngày, 0 có ca nào dùng thuốc > 1 tuần

·        Giữa 2 phương pháp có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với  p< 0.05.

3.7. Giá tiền các phương pháp cắt Amidan tại Bệnh viện ĐK Hương Khê

1

3.7. Biểu đồ giá tiền các phương pháp cắt amidan tại Bệnh viện ĐK Hương Khê

·        Cắt Amidan bằng dao diện: giá 1,1 triệu đồng

·        Cắt Amidan bằng Coblator: giá 2,3 triệu đồng

 

 

 

CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

4.1. Thời gian phẫu thuật

Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian cắt Amidan bằng dao điện ngắn nhất là 10 phút, dài nhất là 60 phút. Trung bình là 30 phút.

Thời gian cắt Amidan bằng coblator ngắn nhất là 15 phút, dài nhất là 120 phút, trung bình là 60 phút.

Trong nghiên cứu của Phạm Anh Tuấn, thời gian cắt Amidan bằng dao điện ngắn nhất là 5 phút, dài nhất là 35 phút. Trung bình là 22,5 phút. Thời gian cắt Amidan bằng coblator ngắn nhất là 2 phút, dài nhất là 20 phút, trung bình là 12,43 phút [16].

Tác giả Trần Anh Tuấn, Nhan Trừng Sơn [12] khi sử dụng coblator thì thời gian phẫu thuật là từ 15-30 phút.

So sánh với các nghiên cứu trên thế giới, thời gian phẫu thuật cũng thay đổi tương tự. Với nghiên cứu của Back [19] thời gian phẫu thuật bằng coblator trung bình là 27 phút, trái lại với nghiên cứu của Jayashinge [21] thì thời gian phẫu thuật bằng coblator chỉ là 14,4 phút.

So sánh giữa dao điện và coblator, tác giả Parson [24] thời gian phẫu thuật cắt Amidan bằng dao điện trung bình là 21 ± 6,7 phút, thời gian cắt bằng coblator là 28,9 ± 13,5 phút. Như vậy là thời gian cắt bằng dao điện nhanh hơn cắt bằng coblator. Tương tự, tác giả Shah [33] cắt bằng dao điện là 16,2 ±3,2 phút, cắt bằng coblator là 23,8 ± 7,9 phút. Còn tác giả Storker [23] thì thời gian phẫu thuật cắt amidan bằng dao điện và coblator là không có sự khác biệt khi thời gian lần lượt là 22,7 ± 13,5 phút với coblator và 23 ± 11,7 với dao điện.

Tuy nhiên thời gian cắt amidan giữa 2 phẫu thuật có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Như vậy, rõ ràng thời gian phẫu thuật mang đậm dấu ấn cá nhân của từng phẫu thuật viên hơn là phương pháp phẫu thuật.

4.2. Cầm máu trong mổ

Về cầm máu trong mổ, đối với các bệnh nhân cắt Amidan bằng dao điện, có 2 trường hợp phải khâu thêm mũi chữ X để cầm máu, trong đó có 5 trường hợp phải dùng thêm thuốc cầm máu trong mổ.

Sự khác biệt về hiệu quả cầm máu của 2 phương pháp có ý nghĩa thống kê.

4.3. Lượng máu mất trong mổ

Đối với lượng máu mất trong mổ, chúng tôi quan sát thấy trong nghiên cứu lượng máu mất đa số chỉ trên dưới 5ml máu.

Đối với các bệnh nhân cắt bằng dao điện, chỉ có 4 trường hợp là lượng máu mất dưới 5 ml. Có 20 bệnh nhân lượng máu mất từ 5-10ml.

Đối với cắt bằng coblator, 19 ca lượng máu mất dưới 5ml, có 19 bệnh nhân lượng máu mất từ 5-10ml. Sự khác biệt về khả năng cầm máu giữa 2 nhóm có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

So sánh với các nghiên cứu khác, theo tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh [14] lượng máu mất trong mổ cắt bằng dao điện là 9ml.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Dung [2] lượng máu mất từ 5-10 ml chiếm 68,8% khi cắt bằng coblator.

Như vậy chúng tôi đưa ra kết luận rằng cầm máu trong mổ không chỉ có vai trò quan trọng của dụng cụ phẫu thuật, mà kỹ thuật của các phẫu thuật viên cũng là yếu tố tiên quyết.

4.4. Tỷ lệ chảy máu

Chảy máu sớm gặp ở 2 trong 100 ca cắt Amidan. Đây là 2 ca cắt Amidan bằng dao điện (4%). Bệnh nhân sau mổ xuất hiện chảy máu tươi từ hốc mổ cắt Amidan, sau khi khám phát hiện có điểm chảy bệnh nhân đã được gây mê lại và khâu chữ X cầm máu.

Chảy máu muộn gặp ở 5 trường hợp, có 4 ca cắt bằng dao điện (8%), 1 ca cắt bằng coblator (2%).

Như vậy có sự khác biệt về tỷ lệ chảy máu giữa các phương pháp có ý nghĩa thống kê với p < 0.05.

So sánh với các nghiên cứu trong nước, theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Thủy [18] thì tỷ lệ chảy máu sau cắt Amidan tại viện TMH TW là 2,16%.

Theo tác giả Bùi Thế Sáu thì tỷ lệ chảy máu là 0,74% [9].

Về tỷ lệ chảy máu sớm và muộn, tác giả Võ Diệu Linh [7] cho kết quả tỷ lệ chảy máu sớm là 36,9%, tỷ lệ chảy máu muộn là 63,1%.

Khác với tác giả Nguyễn Thanh Thủy [18], thời gian chảy máu sớm nhiều hơn chảy máu muộn, 56,3% chảy máu sớm lớn hơn 43,7% chảy máu muộn.

4.5. Mức độ chảy máu sau mổ

Có 2 trường hợp chảy máu mức độ C phải gây mê khâu chữ X cầm máu là trường hợp chảy máu sớm gặp trong cắt Amidan bằng dao điện. Có 4 trường hợp chảy máu gặp trong cắt Amidan bằng dao điện, và 1 trường hợp chảy máu gặp trong cắt Amidan bằng comblator.

So sánh với các nghiên cứu khác, theo tác giả Bùi Thế Sáu [9] mức độ chảy máu nhẹ gặp 81,5% trường hợp. Chảy máu vừa gặp 10,8% trường hợp. Chảy máu nặng gặp 7,7% trường hợp.

Với kết quả này rõ ràng là trầm trọng hơn rất nhiều so với nghiên cứu của chúng tôi.

 Có lẽ vì nghiên cứu của tác giả là hồi cứu trên số lượng hồ sơ lớn hơn nên có sự khác biệt.

4.6. Số ngày dùng thuốc giảm đau

  Trong nghiên cứu của chúng tôi, số ngày dùng thuốc giảm đau được chia thành 3 mốc, < 4 ngày, 4-7 ngày và > 7 ngày. Các bệnh nhân được giải thích kỹ về tác dụng của thuốc giảm đau, và không uống khi không cần thiết.

  Đối với các trường hợp cắt bằng dao điện, có 9 trường hợp dùng thuốc < 4 ngày, 16 trường hợp dùng thuốc 1 tuần và 8 trường hợp dùng thuốc trên 1 tuần.

  Đối với các trường hợp cắt bằng coblator, số bệnh nhân dùng thuốc giảm đau dưới 4 ngày là 20 ca, có 12 ca phải dùng thuốc 1 tuần, không có bệnh nhân nào dùng thuốc trên 1 tuần.

  Như vậy, hiệu quả giảm đau của coblator tốt hơn dao điện, nhất là từ ngày thứ 4 trở đi, số bệnh nhân phải dùng thuốc giảm đau giảm đi rõ rệt.

4.7. Giá tiền phẫu thuật

Tại Bệnh viện đa khoa huyện Hương Khê, giá tiền cho phẫu thuật cắt amidan bằng dao điện là 1,1 triệu đồng, giá tiền phẫu thuật cắt amidan bằng coblator là 2,3 triệu đồng.

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 100 bệnh nhân cắt Amidan bằng 2 phương pháp là dao điện và coblator trong thời gian từ 01/2017 – 6/2017 chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

-         Cắt Amidan bằng dao điện, thời gian phẫu thuật trung bình là 30 phút,  Cắt Amidan bằng Coblator, thời gian phẫu thuật trung bình là 60 phút.

-         Coblator cầm máu trong mổ hiệu quả hơn dao điện.

-         Lượng máu mất trong mổ:

·        Cắt bằng dao điện: 8% lượng máu mất < 5 ml, 40% mất 5-10ml

·        Cắt bằng coblator: 40% lượng máu mất < 5ml, 20% mất 5-10ml

-         Tỷ lệ chảy máu:

·        Cắt bằng dao điện: tỷ lệ chảy máu sớm là 4% và chảy máu muộn là 8% ở.

·        Cắt bằng coblator: chảy máu sớm 0,0% và chảy máu muộn là 2% .

·        Coblator giảm đau sau mổ tốt hơn dao điện.

-          Hiện nay, gía tiền cắt Amidan bằng Comblator đang đắt hơn cắt Amidan bằng dao điện.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

        TIẾNG VIỆT

1.            Phạm Trần Anh (2010). Góp phần tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến chảy máu sau phẫu thuật cắt Amidan tại bệnh viện Tai mũi họng Trung ương từ 5/2005 đến 12/2007. Y học thực hành, 705(2), 107-111.

2.            Nguyễn Ngọc Dung, Nhan Trừng Sơn (2010). Sử dụng comblator cắt Amidan trẻ em tại khoa nhi tổng hợp bệnh viện TMH TP Hồ Chí Minh từ tháng 6 đến tháng 8 2009. Tạp chí TMH Việt Nam số 55, tr 5-10.

3.            Hồ Phan Thị Ly Đa, Võ Lâm Phước, Đặng Thanh (2012). Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt amidan bằng dao điện đơn cực và lưỡng cực tại bệnh viện đại học y dược Huế. Nội san TMH 2012, 102-109

4.            Lê Công Định và cộng sự (2011). Đánh giá kết quả cắt amidan bằng dao mổ Gold Laser tại khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Namsố 3,   9-14.

5.            Nguyễn Nam Hà, Trần Đình Khả, Nguyễn Duy Từ, Huỳnh Hữu Thức (2008). Đặc điểm giải phẫu bệnh của amiđan viêm mạn tính ở người lớn được cắt amiđan tại Bệnh viện nhân dân Gia Định, TP.HCM. Y Hoc TP. Hồ Chí Minh  số 13 – phụ bản số 6 – 2009,273 – 277.

6.            Trần Công Hòa, Nguyễn Khắc Hòa, Nguyễn Thanh Thủy (2003). Phẫu thuật cắt Amidan: nhận xét 3962 trường hợp tại viện tai mũi họng. Nội san Tai mũi họng 2003, 23.

7.            Võ Diệu Linh (2010). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả xử trí các biến chứng sau cắt Amidan. Luận văn bác sỹ chuyên khoa II, trường đại học Y Dược Huế.

8.            Ngô Ngọc Liễn (2008). Giản yếu Tai Mũi Họng. Nhà xuất bản y học, tr 225; 231-232; 266.

 

9.            Bùi Thế Sáu (2012). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của biến chứng chảy máu sau cắt Amidan được xử trí tại bệnh viện tai mũi họng Trung ương. Luận văn thạc sỹ y học. Đại học Y Hà Nội.

10.       Nguyễn Tuấn Sơn (2012). Nghiên cứu chỉ định và đánh giá kết quả  điều trị của phương pháp cắt amidan bằng dao điện đơn cực.  Đại học Y Hà Nội.

11.       Nhan Trừng Sơn (2012) Tai mũi họng nhập môn. Cắt amidan p 290-295

12.       Trần Anh Tuấn, Nhan Trừng Sơn(2010). Sử dụng coblator cắt 50 ca amiđan người lớn tại cơ sở 2 Bệnh viện Đại học y dược TP.HCM trong 3 tháng hè 2009. Tạp chí TMH việt nam (55), 11-16.

13.       Lý Xuân Quang, Phạm Kiên Hữu (2007). Đánh giá kết quả sử dụng dao mổ siêu âm trong cắt Amidan. Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh (11). Phụ bản 1 tr 5-8.

14.       Nguyễn Hữu Quỳnh, Đặng Hoàng Sơn, Nguyễn VănĐức (2003). So sánh hai phương pháp cắt Amidan bằng phẫu tích thòng lọng với cắt amidan bằng phương pháp dao điện kim đơn cực ở trẻ em. Y học TP Hồ Chí Minh, tập 7. Tr 107-110.

15.       Lê Thanh Tùng, Võ Lâm Phước, Nguyễn Tư Thế, Phạm Ngọc Quang(2011). Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt amidan ở trẻ em bằng kỹ thuật coblation tại BV.Trung ương Huế. Nội san TMH 2012,tr 96-101.

16.       Phạm Anh Tuấn (2017). Đánh giá kết quả cắt Amidan bằng dao điện, comblator và plasma. Luận văn bác sĩ nội trú. Trường Đại học Y Hà Nội.

17.       Nguyễn Thị Thu Thư (2013). Đánh giá mức độ đau sau phẫu thuật của phương pháp cắt amidan bằng dao plasma. Khóa luận tốt nghiệp bác sỹ y khoa, Đại học Y Hà Nội.

18.       Nguyễn Thanh Thủy (2004). Nhận xét về tình hình chảy máu sau cắt Amidan tại bệnh viện Tai mũi họng Trung ương từ 2001-2003. Luận văn thạc sỹ y học, trường Đại học Y Hà Nội.

TIẾNG ANH

19.       Back L, Paloheimo M, Ylikoski J (2001). Traditional tonsillectomy compared with bipolar radiofrequency thermal ablation tonsillectomy in adults: a pilot study. Archives of Otolaryngology - Head and Neck Surgery, 127(9):1106–12.

20.       Belloso A, Morar P et al (2006), Randomized – Controlled Study comparing post operative pain between coblation palatoplasty and laser palatoplasty, Clin Otolaryngol, Apr (2): 138-143

21.       Jayasinghe H, Lee P, Williams A, Kerr AIG (2005). Randomised single blinded trial of outcome for coblation versus cold steel tonsillectomy. Emailed presentation.

22.       Shah UK, Galinkin J, Chiavacci R, Briggs M (2002). Tonsillectomy by means of plasma-mediated ablation: prospective, randomized, blinded comparison with monopolar electrosurgery. Archives of Otolaryngology - Head and Neck Surgery;128(6):672–6.

23.       Stoker KE, Don DM, Kang DR, Haupert MS, Magit A, Madgy DN (2004). Pediatric total tonsillectomy using coblation compared to conventional electrosurgery: a prospective, controlled single-blind study. Otolaryngology - Head and Neck Surgery;130(6):666–75.

24.       Parsons SP, Cordes SR, Comer B (2006). Comparison of posttonsilectomy pain using the ultrasonic scalpel, coblator, and electrocautery. Otolaryngology - Head and Neck Surgery, 134:106–13.

25.       Timms MS, Temple RH (2002). Coblation tonsillectomy: a double blind randomized controlled study. J Laryngol Otol ;116:450–2.

 

 

 

PROTOCOL

 

I. Hành Chính

Họ Tên : ………………………………………………………...Tuổi:…………Giới…………

Địa chỉ: ………………………………………………………………………………….…..….

Số vào viện : ………………………… Ngày Phẫu thuật:………/………/…………………….

Số điện thoại liên hệ :………………………………………………………………………..….

Phương pháp cắt Amidan:                    □ Dao điện                   □ Coblator                  

Thời gian phẫu thuật: …………....Phút                        Lượng máu mất: □ < 5ml    □  5-10ml     □> 10m        

1

Thời gian dùng thuốc giảmđau sau mổ:……………..ngày

Số lần dùng thuốc giảmđau / ngày:…………………..lần/ngày

Thời gian bong giả mạc sau mổ: ………………………………….ngày sau mổ

Biến chứng chảy máu sau phẫu thuật ngày thứ nhất:

Biến chứng chảy máu muộn (7-9 ngày sau phẫu thuật)”

Xử trí biến chứng chảy máu sau mổ: □ Ngậm nước đá     □ bông cầu oxy già cầm máu

□ Gây mê khâu cầm máu

Biến chứng nhiễm trùng và biến chứng khác: ………………………………

 

 

 

Tác giả bài viết: Ths.Bs. Nguyễn Văn Tuấn - Ths. Bs. Phạm Trung Kiện

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn